Phương pháp GreenU tính lượng CO₂e tránh được khi thu gom, tái chế vỏ hộp sữa

GreenU công bố phương pháp tính lượng phát thải khí nhà kính (CO₂e) tránh được khi thu gom và tái chế vỏ hộp giấy đựng sữa, kèm bản rà soát các nghiên cứu khoa học làm căn cứ. Phương pháp dùng cho các chương trình thu gom vỏ hộp do GreenU điều phối tại Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Ninh và TP. Hồ Chí Minh, với nhà máy tái chế đặt tại TP. Hồ Chí Minh. Bài này tóm tắt phương pháp về mặt khoa học; tài liệu đầy đủ ở cuối bài.
Phương pháp trả lời hai câu hỏi khác nhau
Doanh nghiệp thường hỏi một câu: tái chế vỏ hộp giúp giảm bao nhiêu tấn CO₂e. Thực ra đây là hai câu hỏi có ranh giới khác nhau, nên phương pháp tính thành hai sổ riêng từ cùng một bộ dữ liệu thu gom.
- Sổ A, kiểm kê doanh nghiệp: phát thải cuối vòng đời của bao bì mà doanh nghiệp đã bán (Scope 3, hạng mục 12 theo GHG Protocol) giảm bao nhiêu khi vỏ hộp của chính nhãn hàng đó chuyển từ chôn lấp hoặc đốt sang tái chế. Mức giảm này được ghi vào kiểm kê.
- Sổ B, phát thải tránh được của chương trình: so với kịch bản không có chương trình, toàn bộ chuỗi thu gom và tái chế giúp tránh bao nhiêu tấn CO₂e. Con số này báo cáo riêng, không dùng để trừ vào kiểm kê (theo ISO 14064-2 và hướng dẫn của WBCSD, 2023).
Căn cứ khoa học
Vỏ hộp sữa gồm khoảng 75% sợi giấy, 20% nhựa PE và 5% nhôm (Robertson, 2021). Khi bị chôn lấp, phần sợi giấy phân hủy yếm khí và sinh khí methane. Khi bị đốt, lớp PE sinh CO₂ có nguồn gốc hóa thạch. Tái chế tránh được hai nguồn phát thải này, đồng thời thu hồi sợi giấy và hỗn hợp nhựa nhôm (PolyAl) để thay thế vật liệu khác.
Theo hệ số mặc định của IPCC (2006, cập nhật 2019), mỗi tấn vỏ hộp khô bị chôn lấp sinh khoảng 1,2 đến 3,0 tấn CO₂e methane trong suốt vòng đời, tùy loại bãi. Con số này lớn hơn nhiều so với lợi ích từ thay thế vật liệu. Vì vậy, kết quả tính phụ thuộc trước hết vào việc vỏ hộp đang đi đâu nếu không có chương trình: chôn lấp, lò đốt hay đốt lộ thiên.
Các nghiên cứu quốc tế cho kết quả cùng chiều. Turner và cộng sự (2015) tính riêng chuỗi tái chế bao bì composite ở Anh: phát thải ròng −0,45 tấn CO₂e mỗi tấn sau khi trừ lợi ích thay thế vật liệu. Zhang và cộng sự (2026) cho kết quả tương tự với mô hình thu gom ở trường học tại Trung Quốc. Roland Berger (2022) ước tính mỗi hộp 1 lít được tái chế thay vì thải bỏ ở châu Âu tránh được khoảng 48 g CO₂e, tương đương 1,5 đến 1,9 tấn CO₂e mỗi tấn vỏ hộp.
Các bước tính
- Chuẩn hóa khối lượng: từ khối lượng cân ướt, trừ tạp chất và độ ẩm để ra tấn vỏ hộp khô; xác định tỷ lệ vỏ hộp của từng nhãn hàng bằng kiểm toán nhãn.
- Xác định kịch bản đối chứng tại từng địa phương: tỷ lệ chôn lấp, lò đốt, đốt lộ thiên và phần vốn đã được tái chế qua ve chai (phần này không tính cho chương trình).
- Tính hệ số phát thải từng tuyến xử lý theo IPCC: methane chôn lấp, CO₂ hóa thạch khi đốt, có trừ điện thu hồi từ lò đốt rác phát điện.
- Tính phát thải của chương trình: nhiên liệu thu gom, điện phân loại, vận chuyển đường dài về nhà máy, điện và nhiên liệu nhà máy, phần sợi hao hụt đem chôn.
- Trừ lợi ích thay thế vật liệu, chỉ khi có bằng chứng người mua thật sự dùng sợi và PolyAl thay cho vật liệu khác.
- Tính ba kịch bản thấp, trung tâm, cao và công bố con số thận trọng kèm khoảng dao động.
Kết quả minh họa
Với tham số mặc định, lượng phát thải tránh được nằm trong khoảng 0,6 đến 3,3 tấn CO₂e mỗi tấn vỏ hộp khô, mức trung tâm 2,1, ở nơi vỏ hộp chủ yếu bị chôn lấp hoặc đốt lộ thiên. Khi áp dụng cho bốn điểm thu gom với nhà máy tái chế tại TP. Hồ Chí Minh, mức trung tâm là 2,1 (Đà Nẵng), 2,0 (TP. Hồ Chí Minh), 0,8 (Quảng Ninh) và 0,3 tấn CO₂e mỗi tấn (Hà Nội). Hà Nội thấp hơn vì phần lớn rác đã vào nhà máy đốt rác phát điện và vì vỏ hộp phải vận chuyển khoảng 1.720 km.
Tính chung cho cơ cấu thu gom minh họa của bốn địa phương, cứ khoảng 1.000 tấn vỏ hộp khô được tái chế có thể giúp tránh phát thải khoảng 1.300 tấn CO₂e (khoảng dao động 500 đến 2.200 tấn), tức khoảng 1,3 kg CO₂e cho mỗi kg vỏ hộp.
Lưu ý khi sử dụng
- Các con số trên là ước tính minh họa với số liệu ví dụ. Hệ số chính thức của chương trình cần khảo sát kịch bản đối chứng, số liệu vận hành nhà máy và thẩm tra độc lập.
- Phát thải tránh được (Sổ B) không phải mức giảm trong kiểm kê khí nhà kính của doanh nghiệp, và không làm giảm kiểm kê bắt buộc cấp cơ sở theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP).
- Cùng một tấn vỏ hộp chỉ nên được một bên tuyên bố là phát thải tránh được, để tránh đếm trùng giữa nhãn hàng, nhà sản xuất bao bì, đơn vị điều phối và nhà tái chế.
Tài liệu tham khảo chính: IPCC (2006, 2019) Hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính quốc gia, Tập 5; GHG Protocol (2011, 2013) Scope 3 Standard và Technical Guidance; ISO 14064-1:2018, ISO 14064-2:2019; WBCSD (2023) Guidance on Avoided Emissions; Robertson (2021) Recycling 6(1):20; Turner và cs. (2015) Resources, Conservation and Recycling 105; Zhang và cs. (2026) Environmental Impact Assessment Review 116; Roland Berger (2022) báo cáo cho ACE. Danh mục đầy đủ có trong tài liệu tải về.
Đọc tiếp

Hà Nội phân loại rác tại nguồn và giảm nhựa theo lộ trình đến năm 2031: Những điểm cần biết

Phá vỡ điểm nghẽn thu mua tuần hoàn: Cam kết Thị trường Trước (AMC) có giải được bài toán khan hiếm nhựa tái chế?

EPR và Thu mua có trách nhiệm trong tái chế bao bì nhựa: hai khoản chi phí cộng dồn, không thay thế nhau
Bạn là nhà tài trợ, tổ chức hoặc doanh nghiệp muốn cùng tạo thay đổi? Hãy kết nối với chúng tôi.
