Toà A4, Chung cư An Bình City, KĐT Thành phố Giao lưu, Phú Diễn, Hà Nộiinfo@greenu.vn(024) 6654 8087
GreenU
Làng XanhMới
Liên hệ
Về trang Tin tức
Kiến thức & Nghiên cứu

TỔNG HỢP CÁC ĐIỂM MỚI TẠI NGHỊ ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM EPR

TỔNG HỢP CÁC ĐIỂM MỚI TẠI NGHỊ ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM EPR

Nghị định 110/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 01/4/2026) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi tách riêng các quy định về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) thành một văn bản pháp lý chuyên biệt. Để thực hiện điều này, Nghị định 110 đã bãi bỏ toàn bộ Chương VI, Phụ lục XXII và XXIII của Nghị định 08/2022/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi Nghị định 05/2025/NĐ-CP) nhằm tạo ra một khung pháp lý thống nhất và chi tiết hơn.

https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/chinh-sach-moi/109359/da-co-nghi-dinh-110-2026-nd-cp-quy-dinh-luat-bao-ve-moi-truong-ve-trach-nhiem-tai-che-san-pham-va-bao-bi

Dưới đây là các điều chỉnh và điểm mới trọng tâm của Nghị định 110/2026/NĐ-CP so với Nghị định 08 và 05 về nghĩa vụ thực hiện tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu:

1. Làm rõ các đối tượng được miễn trừ trách nhiệm tái chế Nghị định 110 quy định chi tiết và cụ thể hơn về các trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế, bao gồm:

  • Ngưỡng doanh thu: Nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ bán hàng hóa, dịch vụ của năm liền trước dưới 30 tỷ đồng/năm không phải thực hiện trách nhiệm tái chế. (Trước đây, Nghị định 05 chủ yếu nhấn mạnh ngưỡng 30 tỷ này cho phần đóng góp hỗ trợ xử lý chất thải, nay Nghị định áp dụng rõ ràng cho cả trách nhiệm tái chế).
  • Mục đích sản xuất/nhập khẩu: Các sản phẩm, bao bì xuất khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc được sản xuất, nhập khẩu phục vụ mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm không phải tái chế.
  • Bao bì đặc thù: Bao bì của các sản phẩm như thuốc, mỹ phẩm, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất tẩy rửa dùng trong nông nghiệp và xi măng được miễn trừ nghĩa vụ tái chế.

2. Điều chỉnh về đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam Trường hợp nhà sản xuất, nhập khẩu chọn hình thức nộp tiền vào Quỹ thay vì tự tái chế, Nghị định 110 có một số điều chỉnh về lộ trình và thời hạn:

  • Công thức tính giữ nguyên: Mức đóng góp vẫn được tính theo công thức F = R x V x Fs (trong đó R là Tỷ lệ tái chế bắt buộc, V là Khối lượng sản phẩm/bao bì, Fs là Định mức chi phí tái chế hợp lý) giống như Nghị định 05.
  • Lộ trình áp dụng Fs: Nghị định 110 quy định rõ Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ ban hành Fs theo chu kỳ 3 năm một lần, đặc biệt nhấn mạnh định mức Fs cho từng sản phẩm, bao bì sẽ bắt đầu áp dụng từ năm 2029.
  • Thời hạn nộp tiền linh hoạt hơn: Nhà sản xuất/nhập khẩu có hai lựa chọn nộp tiền: Nộp 100% trước ngày 01 tháng 4 hằng năm; hoặc nộp trả góp (50% trước ngày 20 tháng 4 và 50% còn lại trước ngày 20 tháng 10).

3. Siết chặt quy cách tái chế và khối lượng được ghi nhận

  • Không cộng dồn năm trước: Nghị định 110 quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc được tính cho từng loại sản phẩm, bao bì và được quy định tại Phụ lục I.
  • Điều kiện khối lượng tính tái chế: Khối lượng sản phẩm, bao bì được tính vào chỉ tiêu hoàn thành trách nhiệm tái chế phải đáp ứng đúng quy cách. Đặc biệt, nhà sản xuất/nhập khẩu phải cam kết khối lượng này không bao gồm phế liệu nhập khẩu, bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất, hoặc sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất,.
  • Trường hợp ủy quyền cho bên thứ ba (đơn vị tái chế), đơn vị được ủy quyền không được phép ủy quyền lại cho một bên thứ tư để đảm bảo tính minh bạch của khối lượng tái chế.

4. Chế độ báo cáo và giám sát nghiêm ngặt hơn Để tránh tình trạng khai khống khối lượng tái chế, hệ thống biểu mẫu của EPR mới yêu cầu sự theo dõi và giám sát gắt gao:

  • Cập nhật tiến độ hằng tháng: Nghị định mới ban hành Mẫu số 02c yêu cầu nhà sản xuất tự tái chế hoặc đơn vị nhận ủy quyền tái chế phải lập bảng cập nhật tiến độ hằng tháng, ghi rõ tổng khối lượng thu gom, khối lượng đã tái chế và thông tin chi tiết của đơn vị thu gom.
  • Thuyết minh hoạt động tái chế: Tại Báo cáo kết quả tái chế hằng năm (Mẫu 02b), doanh nghiệp phải nộp kèm sơ đồ, thuyết minh chi tiết quy trình nội bộ từ khâu thu gom đến khâu tái chế, kèm theo hình ảnh, hóa đơn, chứng từ và biên bản nghiệm thu hợp đồng để làm minh chứng.

Theo Điều 23 về Điều khoản chuyển tiếp của Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết 2 nội dung chính về mốc thời gian áp dụng và cách xử lý kinh phí tồn đọng như sau:

1. Về mốc thời gian thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu:

  • Đối với các năm từ 2025 trở về trước: Việc thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải vẫn được tiếp tục áp dụng theo quy định của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 08/2026/NĐ-CP ngày 29/01/2026).
  • Đối với các năm từ 2026 trở về sau: Việc thực hiện các trách nhiệm nêu trên sẽ được áp dụng hoàn toàn theo quy định mới của Nghị định 110/2026/NĐ-CP.

2. Về xử lý khoản kinh phí hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải đã tiếp nhận: Đối với các khoản kinh phí mà Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đã tiếp nhận được trước ngày Nghị định 110 có hiệu lực, việc hỗ trợ sẽ được triển khai theo Điều 18 của Nghị định này nhưng với các mốc thời gian được điều chỉnh đặc biệt như sau:

  • Trong vòng 30 ngày (kể từ ngày Nghị định có hiệu lực): Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải gửi văn bản đề nghị hỗ trợ tài chính.
  • Trong vòng 45 ngày (kể từ ngày Nghị định có hiệu lực): Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm phê duyệt và công khai phương án phân bổ kinh phí.
  • Trong vòng 30 ngày (kể từ ngày có quyết định phê duyệt và công khai phương án): Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thực hiện chuyển kinh phí hỗ trợ về tài khoản của quỹ bảo vệ môi trường cấp tỉnh (hoặc tổ chức tài chính tương đương) theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tóm lại, so với Nghị định 08 và 05, Nghị định 110/2026/NĐ-CP không làm thay đổi bản chất của cơ chế EPR mà chủ yếu cụ thể hóa các đối tượng được miễn trừ, làm rõ lộ trình tài chính (bắt đầu áp dụng Fs từ 2029), và đặc biệt siết chặt cơ chế quản lý, báo cáo (hằng tháng/năm) để chống lại việc gian lận khối lượng thu gom và tái chế.


TỔNG HỢP CÁC ĐIỂM MỚI TẠI NGHỊ ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM EPR

Nghị định mới đã đưa ra những điều chỉnh quan trọng nhằm cụ thể hóa quy trình, thời gian và cơ chế hỗ trợ tài chính cho các hoạt động tái chế sản phẩm, bao bì cũng như xử lý chất thải tại Việt Nam.

1. Quy định về Kê khai và Nộp tiền Tài chính

Nghị định quy định rõ mốc thời gian và phương thức thực hiện cho cả hai loại trách nhiệm:

  • Đối với tiền tái chế:
    • Kê khai: Trước ngày 01/04 hằng năm trên Hệ thống thông tin EPR.
    • Nộp tiền: Trước ngày 20/04, nhà sản xuất/nhập khẩu phải nộp toàn bộ số tiền đã kê khai vào tài khoản của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
  • Đối với tiền xử lý chất thải:
    • Kê khai: Trước ngày 01/04 hằng năm trên Hệ thống thông tin EPR.
    • Nộp tiền: Trước ngày 20/04, thực hiện nộp toàn bộ số tiền vào tài khoản của Quỹ.

2. Quản lý và Sử dụng Lãi tiền gửi từ nguồn đóng góp EPR

Một điểm mới đáng chú ý là việc phân bổ lãi tiền gửi ngân hàng từ nguồn tiền đóng góp:

  • Chi phí quản lý: Được trích từ lãi tiền gửi nhưng không quá 2% số tiền giải ngân (đối với tái chế) hoặc số tiền phân bổ/giải ngân (đối với xử lý chất thải) trong năm.
  • Phần lãi còn lại: Được nhập vào nguồn tiền hỗ trợ hoạt động tái chế hoặc xử lý chất thải theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

3. Cơ chế Hỗ trợ Tái chế Sản phẩm, Bao bì

Nghị định thiết lập một cơ chế hỗ trợ mang tính cạnh tranh và minh bạch hơn:

  • Hình thức hỗ trợ: Hỗ trợ theo nhóm sản phẩm, bao bì thông qua cơ chế đề xuất cạnh tranh. Số tiền hỗ trợ tính theo khối lượng thực tế đã tái chế ($F = K_đ \times M$).
  • Đối tượng nhận hỗ trợ: Các đơn vị trực tiếp tái chế hoặc đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế (đơn vị thu gom, chuyển giao và nghiệm thu khối lượng tái chế).
  • Phân bổ gói hỗ trợ: Các gói hỗ trợ được chia theo nhóm như: Săm lốp, dầu nhớt, bao bì, sản phẩm điện tử, pin - ắc quy, phương tiện giao thông... với giá trị từ 10 tỷ đến 20 tỷ đồng mỗi gói.
  • Tiêu chí đánh giá: Hồ sơ đề nghị hỗ trợ được chấm điểm dựa trên:
    • Khối lượng tái chế (tối đa 100 điểm).
    • Thời gian thực hiện (tối đa 50 điểm).
    • Hệ số công nghệ (k): Từ 0,6 đến 1 tùy thuộc vào mức độ tiên tiến của giải pháp tái chế.

4. Cơ chế Hỗ trợ Xử lý Chất thải

Khác với tái chế, hỗ trợ xử lý chất thải tập trung vào vai trò của chính quyền địa phương:

  • Đối tượng hỗ trợ: Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh.
  • Các hoạt động được hỗ trợ: Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình; nghiên cứu công nghệ xử lý chất thải; và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật.
  • Cách thức phân bổ: Không dựa trên đề nghị của địa phương mà dựa trên các trọng số: diện tích đất nông nghiệp, quy mô dân số và diện tích khu vực có điều kiện khó khăn.

5. Quy trình và Mốc thời gian thực hiện (Năm 2026)

Nghị định quy định lịch trình chặt chẽ cho công tác hỗ trợ:

  • Hỗ trợ tái chế: Bộ công bố gói hỗ trợ trước 01/06; đơn vị gửi hồ sơ trước 01/07; giải ngân được thực hiện sau khi có báo cáo kết quả tái chế được kiểm toán độc lập xác nhận.
  • Hỗ trợ xử lý chất thải (Lịch trình chuyển tiếp năm 2026):
    • UBND cấp tỉnh gửi đề nghị hỗ trợ trong vòng 30 ngày kể từ khi Nghị định ban hành.
    • Bộ phê duyệt phương án phân bổ trong vòng 45 ngày kể từ khi Nghị định có hiệu lực.
    • Quỹ chuyển kinh phí về quỹ cấp tỉnh trong vòng 30 ngày sau khi phê duyệt.

6. Trách nhiệm của Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Quỹ đóng vai trò nòng cốt trong việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn đóng góp EPR một cách công khai, minh bạch. Trước ngày 01/04 hằng năm, Quỹ phải báo cáo Bộ TN&MT và Hội đồng EPR quốc gia về kết quả tiếp nhận, sử dụng tiền của năm trước và công khai trên website.

Thông tin được tổng hợp dựa trên nội dung tại Nghị định quy định về trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Beta

Website đang trong mùa vun trồng — một số nội dung sẽ tiếp tục được cập nhật. Cảm ơn bạn đã ghé thăm sớm.

TỔNG HỢP CÁC ĐIỂM MỚI TẠI NGHỊ ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM EPR | GreenU